Trang chủ > Bình Luận > Hoa Kỳ chuyển hướng sang châu Á

Hoa Kỳ chuyển hướng sang châu Á

(Hình bên:  Hoa Kỳ sẽ triển khai tàu chiến thân cạn tới Singapore.)

*

Trước chuyến thăm đầu tháng 6/2012 tới Singapore, Việt Nam và Ấn Độ, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Leon Panetta đã nói đến mục tiêu tăng cường quan hệ truyền thống với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Philippines, và xây dựng “đối tác mạnh mẽ” với các nước Đông Nam Á.

Tình hình Biển Đông và Đối tác xuyên Thái Bình Dương là hai chủ đề Hoa Kỳ nêu ra những năm gần đây nhằm thúc đẩy quan hệ với các nước trong vùng, gồm Việt Nam.

BBC Tiếng Việt phỏng vấn Tiến sĩ Ian Story, chuyên gia về Biển Đông tại Singapore và Tiến sĩ Jonathan Chow từ Viện Nghiên cứu Chính sách Asan tại Seoul, Hàn Quốc về hai chủ đề này.

Ian Storey: Chính quyền Obama đã có một chính sách mới mà họ gọi là ‘xoay chiều’, hay cân bằng lại các lực lượng quân sự, chuyển trọng tâm từ Trung Đông, có thể là cả từ châu Âu sang châu Á, và điểm đến chính của Mỹ có thể là Đông Nam Á chứ không phải Đông Bắc Á.

Thực chất, điều này có nghĩa là sự hiện diện của Hoa Kỳ về quân sự tại Đông Nam Á sẽ tăng lên, sẽ có nhiều tàu chiến của Hải quân Mỹ tới đây, và họ cũng tăng cường sự hỗ trợ về năng lực quân sự cho các nước Đông Nam Á như Philippines.

Cả Singaporte và Úc đều là những đối tác trọng yếu của Hoa Kỳ. Úc là đồng minh có hiệp ước quân sự với Mỹ. Singapore không phải đồng minh ở mức có hiệp ước nhưng là một đối tác chiến lược gần gũi. Ngoài ra, Singapore luôn có quyền lợi đặt vào nguyên tắc tự do hàng hải và sự ổn định tại Biển Đông vì họ là quốc gia thương mại. Singapore phụ thuộc nhiều vào nhu cầu đảm bảo tuyến hải hành qua Biển Đông được an toàn.

Hoa Kỳ sẽ triển khai tới bốn tàu chiến thân cạn (littoral combat ship) tới Singapore. Chiếc đầu sẽ đóng ở đó trong 10 tháng của năm 2013. Đây là một phần của chiến lược trấn an các đồng minh của Mỹ tại châu Á rằng Hoa Kỳ sẽ luôn có mặt để duy trì ổn định trong vùng. Tại Úc, đây không phải là một đơn vị đông đảo. Ban đầu chỉ có 250 quân, sau đó đến 2016 sẽ có chừng 2500 thủy quân lục chiến. Mục đích là để thủy quân lục chiến Mỹ luân chuyển qua vùng Đông Nam Á thường xuyên và tham gia vào các đợt tập luyện chung.

Jonathan Chow: Hoa Kỳ bên cạnh thỏa thuận gần đây với Úc để luân chuyển tới 2500 Thủy quân lục chiến tới Darwin là dấu hiệu của quan hệ sâu nặng thêm của hai bên, còn có tập luyện hải quân chung với Việt Nam vào tháng 8/2010 và tháng 7/2011, có tập trận chung với Campuchia hàng năm mà lần đầu xảy ra năm 2010.

Thỏa thuận gần đây giữa Hoa Kỳ và Singapore để cử bốn tàu chiến thân cạn tới Singapore và tăng cường tập trận hai bên, nâng cấp hợp tác quân sự với Malaysia, Indonesia và Brunei đều là những bước tiến triển nhằm thực hiện mục tiêu bổ sung thêm cho các liên minh quân sự đã có rất chặt chẽ của Hoa Kỳ với Philippines và Thailand.

—o0o—

Ian Storey: Biển Đông (Nam Trung Hoa – South China Sea) là một vùng biển quan trọng vì có các tuyến hành hải chạy qua, tính ra chừng 25-30% của thương mại hòa cầu, và có thể là chừng đó khối nguyên liệu dầu khí của cả thế giới. Vì thế, vùng biển này rất quan trọng cho kinh tế toàn cầu, đặc biệt là cho các nền kinh tế đóng vai trò động lực quốc tế ở Đông Bắc Á như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc vốn đều là các nước thiếu nguồn năng lượng.

Jonathan Chow: Nếu [trong tranh chấp Biển Đông] câu hỏi là Hoa Kỳ cho Việt Nam và Philippines “những gì họ muốn”, qua một cam kết công khai hay ngấm ngầm rằng Mỹ sẽ bảo vệ Biển Đông bằng vũ lực cho các nước này, thì tôi nghĩ là chắc chắn là ‘Không’.

Tại diễn đàn ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton đã công nhận “quá trình hợp tác ngoại giao” để có giải pháp cho các tranh chấp lãnh tổ, và nhấn mạnh rằng “các tuyên bố chủ quyền chính đáng về không gian biển tại Biển Nam Trung Hoa phải được căn cứ vào chủ quyền chính đáng về địa hình trên đất liền mà thôi”. Theo tôi, đây là quan điểm khá cân bằng nhưng nó đã khiến Bắc Kinh có phản ứng rất tức tối. Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đã cáo buộc Hoa Kỳ “tấn công Trung Quốc”. Tôi hình dung ra rằng bất cứ một cam kết nào của Hoa Kỳ nhằm bảo vệ tuyên bố chủ quyền của Việt Nam hay Philippines sẽ gây ra cuộc đọ sức nguy hiểm với Trung Quốc. Vì thế, tôi loại trừ khả năng có ủng hộ quân sự của Mỹ.

Vậy ta có thể nói về ủng hộ ngoại giao thế nào cho Việt Nam và Philippines? Washington cần có bước đi rất thận trọng vì Bắc Kinh dễ có phản ứng nổi giận. Tôi nghĩ Washington muốn giữ vai trò thầm lặng và để các nước ASEAN cùng Trung Quốc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Lời Washington thúc giục Trung Quốc và ASEAN xây dựng một Quy tắc Ứng xử trên biển Nam Trung Hoa xuất phát từ cách nhìn này. Chừng nào Trung Quốc chưa từ bỏ giải pháp hòa bình và tăng cường đáng kể sự hung hãn về quân sự trên vùng biển này thì tôi chưa thấy sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho tuyên bố chủ quyền của Việt Nam hay Philippines đi vượt ra ngoài mức thấp như hiện nay.

Ian Storey: Tất nhiên là không một nước Đông Nam Á nào có thể ngang vai với Trung Quốc về quân sự. Trung Quốc nay có ngân sách quốc phòng lớn thứ nhì thế giới và đang trên đường để trở thành cường quốc quân sự chủ đạo ở châu Á.

Việt Nam về phía mình thì đang xây dựng hải quân và họ chỉ muốn quân đội của họ đóng được vai trò ngăn ngừa Trung Quốc. Trên thực tế, họ đang bắt chước chiến lược của Trung Quốc ở eo biển Đài Loan: quân Trung Quốc chỉ muốn kìm chân, không cho Hoa Kỳ can thiệp vào một cuộc xung đột ở Đài Loan. Vì thế, mục tiêu của Việt Nam là gây thiệt hại nào đó cho quân đội Trung Quốc, chứ tất nhiên là không thể đánh bại đối phương được. Nhưng Việt Nam chắc chắn có thể khiến Trung Quốc phải nghĩ lại trước khi ra tay tấn công.

Chứng cớ lịch sử trong tranh chấp:

Ian Storey: Cả Việt Nam và Trung Quốc đều dùng lịch sử để lập luận về chủ quyền với các hòn đảo ma họ nói là của mình. Theo Luật Quốc tế, một quốc gia cần đưa ra cả ba loại bằng chứng: phát kiến địa lý, sự chiếm đóng, và quá trình quản trị liên tục và có hiệu quả (discovery, occupation and effective and continuous administration). Trong các vụ xử gần đây mà Tòa án Quốc tế ra phán quyết, các nước đã thắng kiện đều là những nước chứng minh được sự quản trị hiệu quả và liên tục của họ. Vì thế, khi Trung Quốc nói họ là “chủ sở hữu” các đảo trên Biển Đông từ thế kỷ thứ hai trước Công lịch thì điều đó gần như không có sức nặng gì về luật quốc tế cả. Các lều trại hay vài ba chiếc bình cổ được nói là từ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên thực sự chẳng chứng minh được gì cả.

—o0o—

Jonathan Chow: Chúng ta đã thấy cam kết mới của Hoa Kỳ [với khu vực] đã có những kết quả ban đầu. Ví dụ, vào năm 2010, Ngoại trưởng Hillary Clinton dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, và năm 2011, Tổng thống Obama đến dự để đưa Hoa Kỳ chính thức thành nước thành viên của Hội nghị. Cùng lúc, chính quyền Obama đã chú ý nhiều hơn tới Diễn đàn Khu vực ASEAN, so với chính quyền Bush trước đó.

Ngoại trưởng (nhiệm kỳ trước), bà Condoleezza Rice đã vắng mặt tại hai diễn đàn năm 2005 và 2007, làm nảy ra câu hỏi trong giới phân tích về cam kết của Hoa Kỳ với Đông Nam Á. Nhưng về phía mình, bà Clinton đã xuất hiện nhiều hơn, như đi dự Diễn đàn Khu vực ASEAN thứ 16 (Diễn đàn trước, lần thứ 15 tổ chức khi chính quyền Bush lãnh đạo nước Mỹ). Hoa Kỳ cũng ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác của ASEAN năm 2009. Sự tham gia vào các cơ quan đa phương trong vùng nhiều hơn cho phép Hoa Kỳ tác động đến nghị trình chính sách của khu vực và tiếp xúc ngoại giao bên lề nhiều hơn vì đó là thứ xảy ra ngoài các cuộc gặp đó.

Trong bối cảnh này, quyết định của Mỹ dấn sâu vào quan hệ với Miến Điện cũng là một chuyển biến cơ bản và nó sẽ cải thiện quan hệ với các nước ASEAN. Trong quá khứ, Miến Điện là hòn đá cản đường trong quan hệ ASEAN với Mỹ và nằm giữa lệnh cấm vận của Hoa Kỳ cùng cách ASEAN muốn thông qua ngoại giao mà bề ngoài ít hiệu quả để khuyến khích Miến Điện cải tổ. Nay thì các cải cách của chính quyền Thein Sein và vụ thả bà Aung San Suu Kyi đã tạo ra một cơ hội ngoại giao nhằm tăng cường mối bang giao giữa Hoa Kỳ và Miến Điện, và rộng hơn là với cả ASEAN.

Ấn Độ, Nhật Bản và an ninh khu vực:

Ian Storey: Các nền kinh tế chuyên về thương mại trong vùng châu Á – Thái Bình Dương như Nhật Bản và Hàn Quốc đều có quyền lợi để giao thương được thông suốt bằng đường hàng hải. Nhưng Ấn Độ thì không phải như vậy. Thực ra mà nói, Ấn Độ không phải là một đối tượng trong vấn đề Biển Đông. Nước này nói nhiều về nhu cầu đóng một vai trò ở châu Á nhưng vào lúc này sự hiện diện quân sự của Ấn Độ thực ra còn khá nhỏ ở Đông Nam Á. Điều này có thể thay đổi theo thời gian nhưng vào đúng lúc này thì Ấn Độ không phải là tác nhân chính trong tranh chấp Biển Đông.

—o0o—

Jonathan Chow: Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ chính sách ‘xoay chuyển sang châu Á’ của Hoa Kỳ nhưng tôi nghĩ cũng cần đặt quan hệ này trong sự đổi hướng chiến lược của Hoa Kỳ. Từ 1995, khi hai nước bình thường hóa quan hệ, bang giao Việt – Mỹ cải thiện liên tục.

Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTP sau khi đàm phán xong với Mỹ về nền tảng của quan hệ thương mại bình thường (Permanent Normal Trade Relations), quá trình khiến Việt Nam phải nhượng bộ ít nhiều về tự do tôn giáo. Giao thương hai bên tăng từ 220 triệu USD năm 1994 lên 15,7 tỷ USD năm 1998.

Vì thế tôi không nghĩ chiến lược ‘xoay chuyển sang châu Á’ của Hoa Kỳ sẽ làm thay đổi mạnh tính chất của quan hệ Mỹ – Việt.

Còn về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tôi không thể nói chắc chắn liệu nó sẽ có tác động tích cực hay tiêu cực cho kinh tế Việt Nam.

Một mặt, khu vực quốc doanh ở Việt Nam tiếp tục phân chia vốn thiếu hiệu quả. Nhờ quan hệ ưu đãi với nhà nước, họ cũng có lợi thế khi vay ngân hàng, lấn át khu vực tư nhân. Thẻ thành viên TPP của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào cải tổ khối quốc doanh.

Nếu làm được, điều này có thể khiến các ngành trong nước tiến bộ khi bị buộc phải cạnh tranh vớikhu vực tư nhân. Nó cũng sẽ buộc Việt Nam thực thi cải tổ tư pháp để thu hút đầu tư nước ngoài.

Mặt khác, cải tổ cũng sẽ đòi hỏi các biện pháp mở cửa đầu tư mà có thể khiến Việt Nam gặp khó trong vấn đề quản lý dòng vốn. Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 xảy ra phần nhiều là vì kiểm soát vốn lỏng lẻo khiến vốn nước ngoài ngắn hạn đổ vào; bong bóng vỡ khi giới đầu tư cuống cuồng rút vốn. Vì thế TPP đem lại cả lợi thế và tiêu cực.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2012/05/120531_us_pivot_east_asia_security.shtml

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: